Phim Việt Nam về chiến tranh góp vào mạch nguồn phát triển nền công nghiệp văn hóa
Chúng ta cảm nhận rõ khát vọng của đội ngũ nghệ sĩ với phim Việt Nam về chiến tranh là rất lớn. Điều này cũng là nhu cầu của công chúng yêu điện ảnh với dòng phim Việt Nam về chiến tranh. Từ khát vọng chính đáng ấy đòi hỏi ngành điện ảnh và các cấp quản lý văn hóa có những quan tâm, định hướng chỉ đạo và tổ chức thực hiện một cách mạnh mẽ hơn. Rất cần có tiếng nói mang tính quyết định, sự chỉ đạo mang tính khơi thông nguồn lực để điện ảnh Việt Nam, trong đó có dòng phim Việt Nam về chiến tranh "cất cánh".
Trong một bài viết gần đây với tiêu đề “Các nhà văn Quân đội với dấu ấn phim chiến tranh của Việt Nam sau dấu mốc 1975”, người viết bài này đã nhắc tới một số nhà văn tiêu biểu có những tác phẩm văn học nổi tiếng được chuyển thể thành phim điện ảnh. Đó là nhà văn Nguyễn Thi với tác phẩm “Mẹ vắng nhà”; nhà thơ Phùng Quán với “Tuổi thơ dữ dội”; nhà văn Nguyễn Minh Châu với “Người đàn bà mộng du”; nhà văn Chu Lai với “Người đi tìm dĩ vãng”, “Tiếng cồng định mệnh”, “Mưa đỏ”; nhà văn Xuân Thiều với “Truyền thuyết về Quán Tiên”; nhà văn Lê Lựu với “Thời xa vắng”, góp phần vào cái nhìn khá toàn diện, sâu sắc trong lĩnh vực điện ảnh Việt Nam về chiến tranh. Điều đó càng được khẳng định trong Liên hoan phim châu Á Đà Nẵng lần thứ III-năm 2025 do Hiệp hội Xúc tiến phát triển điện ảnh Việt Nam (VFDA) tổ chức, gây tiếng vang lớn trong đời sống văn học, nghệ thuật.
Từ thực tiễn, công chúng yêu điện ảnh và đông đảo người dân đã nhận thấy cũng như được thưởng thức các sản phẩm phim Việt Nam về chiến tranh với đặc trưng của nó là phản ánh từng bước đi, dấu mốc lịch sử của dân tộc. Đây là một trong những dấu mốc quan trọng, một mạch nguồn góp vào mạch nguồn chung trong xây dựng và phát triển nền văn hóa của Việt Nam thời kỳ mới.
![]() |
| Ê kíp phim "Mưa đỏ" giao lưu với khán giả. Ảnh: NGỌC NAM |
Từ những thành tựu đã đạt được của phim Việt Nam về chiến tranh, chúng ta cần có thêm các cuộc hội thảo khoa học, giao lưu nghề nghiệp, trình chiếu có hệ thống để đánh giá trên tinh thần khoa học những đóng góp đặc sắc của phim Việt Nam về chiến tranh, từ đó đặt ra những bài toán mới, hướng đi mới mạnh mẽ và bền vững, đáp ứng toàn diện nhu cầu của công chúng yêu điện ảnh, của mọi tầng lớp nhân dân trong kỷ nguyên mới.
Nằm sâu trong trí nhớ của chúng ta về các bộ phim chiến tranh do điện ảnh Việt Nam sản xuất sau dấu mốc năm 1975, có thể kể đến như: "Cánh đồng hoang", "Mối tình đầu", "Về nơi gió cát", "Huyền thoại về người mẹ", "Chuyện cổ tích cho tuổi 17", "Ngã ba Đồng Lộc", "Vào Nam ra Bắc", "Hà Nội 12 ngày đêm", "Giải phóng Sài Gòn", "Mùi cỏ cháy", "Người trở về"... Những tác phẩm trên đã góp phần làm phong phú đời sống tinh thần, vun đắp niềm tin và trách nhiệm công dân trên bước đường xây dựng, trưởng thành của mỗi chúng ta. Từ điểm nhìn căn cốt ấy, chúng ta có thể khẳng định phim Việt Nam về chiến tranh là mạch nguồn quan trọng trong xây dựng và phát triển nền công nghiệp văn hóa một cách mạnh mẽ, bền vững.
Có những lúc, từ tư duy đến thực tiễn hành động, chúng ta đã có sự phân vân, lúng túng nhất định trong cụ thể hóa việc xây dựng và phát triển nền công nghiệp văn hóa Việt Nam. Phải bắt đầu từ đâu? Với những việc cụ thể như thế nào? Chuẩn mực nào sẽ được áp dụng, soi chiếu, thẩm định và ghi nhận? Nguồn lực nào sẽ được huy động, phân bổ và sử dụng ra sao? Ai là người chịu trách nhiệm trước những thất thoát, lãng phí, chệch hướng đầu tư như từng xảy ra một số vụ việc đáng tiếc? Những câu hỏi đó đều là sự trăn trở, lo lắng và đồng hành với người có trách nhiệm trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật, mà cụ thể ở đây là với ngành phim Việt Nam. Việc phải trả lời đầy đủ những câu hỏi chính đáng của nhân dân; phải thực hành sản xuất các bộ phim chất lượng cao phục vụ đời sống văn hóa, tinh thần của nhân dân chính là trách nhiệm, bản lĩnh và sự trưởng thành của ngành phim Việt Nam trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Phim Việt Nam về chiến tranh phải góp phần tạo dựng nền tảng, là một trong những mạch nguồn quan trọng trong xây dựng và phát triển nền công nghiệp văn hóa Việt Nam. Đây là một vấn đề lớn, vừa có tính cấp bách vừa có tính lâu dài, đòi hỏi tư duy và khát vọng lớn của người nghệ sĩ, người quản lý các cấp trong ngành phim Việt Nam. Chúng ta không được thoái thác, càng không có chuyện bàn lùi. Liên hoan phim châu Á Đà Nẵng lần thứ III-năm 2025 vừa qua đã góp phần khai thông và dẫn dắt vấn đề trên.
Cũng từ diễn đàn này, nhiều tham luận tâm huyết đã được công bố và trình bày. Đó là: “Giá trị thực sự mà một bộ phim chiến tranh” của đạo diễn, Nghệ sĩ Ưu tú (NSƯT) Bùi Tuấn Dũng; “Chiến tranh Việt Nam và những người kể chuyện” của đạo diễn Philip Cheah (Singapore); “Dòng phim chiến tranh cách mạng ở Việt Nam sau 1975”, “Những cuộc đối thoại mới với quá khứ” của đạo diễn, NSƯT Đặng Thái Huyền; “Khi chiến tranh đi tìm câu chuyện của mình” của PGS, TS Phạm Xuân Thạch; “Những chiến sĩ, những người Việt Nam bình thường đã vượt qua thử thách khốc liệt của cuộc chiến tranh ra sao?” của nhà báo, đạo diễn Tô Hoàng; “Đề tài chiến tranh qua góc nhìn của các nhà làm phim tư nhân”, “Vai trò của người phụ nữ trong chiến tranh” của đạo diễn, NSƯT Lê Hoàng; “Chiến tranh là một nguồn cảm hứng cho những tác phẩm văn học vĩ đại, trong đó có điện ảnh” của đạo diễn, NSƯT Nguyễn Hữu Mười... Những tham luận đó cho thấy sức hấp dẫn của diễn đàn với đội ngũ đạo diễn, nhà văn, nhà biên kịch chuyên tâm và có thành tựu trong các hoạt động điện ảnh, nhất là đối với phim Việt Nam về chiến tranh.
Chúng ta cảm nhận rõ khát vọng của đội ngũ nghệ sĩ với phim Việt Nam về chiến tranh là rất lớn. Điều này cũng là nhu cầu của công chúng yêu điện ảnh với dòng phim Việt Nam về chiến tranh. Từ khát vọng chính đáng ấy đòi hỏi ngành điện ảnh và các cấp quản lý văn hóa có những quan tâm, định hướng chỉ đạo và tổ chức thực hiện một cách mạnh mẽ hơn. Rất cần có tiếng nói mang tính quyết định, sự chỉ đạo mang tính khơi thông nguồn lực để điện ảnh Việt Nam, trong đó có dòng phim Việt Nam về chiến tranh "cất cánh".
Chúng ta đang thực hiện các chương trình lớn về xây dựng và phát triển ngành công nghiệp văn hóa với những mốc thời gian cụ thể, con số cụ thể. Trong lộ trình đó, không thể thiếu sự đóng góp của ngành điện ảnh, một trong những mũi chủ công quan trọng, luôn ở vị trí tiên phong và sẽ tiếp tục giữ đúng vai trò của mình, tạo những bước đà lớn, góp vào sự bứt phá trong xây dựng ngành công nghiệp văn hóa. Đây vừa là thời cơ lớn, vừa là thách thức lớn của điện ảnh Việt Nam.





In bài viết