Tin tức & Xã hội Văn hóa

A- A A+ | Trong Tăng tương phản Giảm tương phản

Để Quỹ Văn hóa, nghệ thuật trở thành “vốn mồi” cho sáng tạo

Văn hóa, nghệ thuật luôn cần tài năng và tự do sáng tạo, nhưng tài năng chỉ có thể nảy nở khi có một hệ sinh thái đủ sức nâng đỡ những ý tưởng mới, kể cả những ý tưởng chưa thể chứng minh ngay hiệu quả bằng doanh thu. Việc Quốc hội cho phép thí điểm thành lập Quỹ Văn hóa, nghệ thuật (VHNT) mở ra một cách tiếp cận mới: Nhà nước không chỉ cấp phát ngân sách cho văn hóa mà sử dụng nguồn lực công như “vốn mồi”, cùng xã hội chia sẻ rủi ro, phát hiện và nuôi dưỡng những giá trị sáng tạo có khả năng tạo nên cả tác động xã hội lẫn giá trị kinh tế.

Một cơ chế tài chính mới cho những ý tưởng sáng tạo

Trong nhiều lĩnh vực kinh tế, một dự án tốt có thể được đánh giá khá rõ qua tài sản bảo đảm, dòng tiền, tỷ suất lợi nhuận hay quy mô thị trường. VHNT thì khác. Một kịch bản phim, một vở diễn thử nghiệm có thể rất có giá trị, nhưng ở thời điểm khởi đầu, chưa ai biết chắc công chúng sẽ đón nhận đến đâu. Chính vì thế, khoảng cách từ một ý tưởng sáng tạo đến một sản phẩm văn hóa có sức sống thường không chỉ là khoảng cách của tài năng mà còn là khoảng cách của nguồn lực.

Quỹ VHNT có ý nghĩa trước hết ở việc lấp đầy khoảng trống đó. Quỹ không nên được hiểu đơn thuần là thêm một kênh xin-cho kinh phí, mà phải là một thiết chế trung gian giữa Nhà nước, thị trường và cộng đồng sáng tạo. Nó có thể giúp những ý tưởng chưa đủ điều kiện tiếp cận tín dụng thương mại có cơ hội thử nghiệm; giúp nghệ sĩ trẻ, doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo vượt qua giai đoạn rủi ro nhất; đồng thời tạo thêm nguồn lực cho những dự án có giá trị văn hóa và tác động xã hội nhưng khó thu hồi vốn trong thời gian ngắn.

Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, những thiết chế tài trợ độc lập hoặc tương đối độc lập có vai trò rất quan trọng đối với đời sống nghệ thuật. Hội đồng Nghệ thuật Anh (Arts Council England) đầu tư cho nghệ thuật, bảo tàng, thư viện và nhiều loại hình sáng tạo bằng cả nguồn ngân sách công và nguồn thu từ xổ số quốc gia; Quỹ Nghệ thuật quốc gia (National Endowment for the Arts) của Hoa Kỳ duy trì các chương trình tài trợ dự án trên nhiều lĩnh vực từ âm nhạc, sân khấu, múa, văn học đến nghệ thuật dân gian, bảo tàng và giáo dục nghệ thuật. Những cơ chế này giúp nguồn lực được phân bổ thông qua đánh giá chuyên môn, tạo cơ hội cho nhiều ý tưởng mà thị trường thuần túy có thể không lựa chọn.

Cuộc thi sáng tác tiểu thuyết Thời báo Văn học nghệ thuật lần thứ I (2023-2025) nhận được tài trợ từ Quỹ Hỗ trợ sáng tạo văn học nghệ thuật Việt Nam thuộc Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam. Ảnh: HUYỀN THƯƠNG

Ở Việt Nam, chúng ta cũng từng có những kinh nghiệm đáng chú ý. Quỹ Phát triển và Trao đổi văn hóa Đan Mạch-Việt Nam (CDEF) đã hỗ trợ các nghệ sĩ, tổ chức của Việt Nam và Đan Mạch thực hiện dự án nghệ thuật đương đại, biểu diễn và giao lưu văn hóa. Dù đây là một chương trình có giới hạn về thời gian và nguồn lực, kinh nghiệm của CDEF cho thấy, một cơ chế tài trợ linh hoạt dựa trên đề xuất sáng tạo và đánh giá chuyên môn có thể tạo thêm không gian cho những thử nghiệm nghệ thuật ngoài khu vực ngân sách thường xuyên.

Trong bối cảnh đó, Điều 11 Nghị quyết số 28/2026/QH16 của Quốc hội về phát triển văn hóa Việt Nam (có hiệu lực thi hành từ ngày 1-7-2026) là một bước đột phá đáng chú ý. Lần đầu tiên, một cơ chế về Quỹ VHNT được thiết kế với tư duy rất khác: Thí điểm ở Trung ương và một số địa phương; hoạt động theo mô hình hợp tác công-tư, mang tính chất quỹ đầu tư mạo hiểm, theo nguyên tắc thị trường và đặc biệt là chấp nhận khả năng rủi ro. Quỹ được cấp vốn điều lệ từ ngân sách một lần, đồng thời có thể nhận tài trợ và huy động các nguồn vốn hợp pháp khác để tài trợ, hỗ trợ, đầu tư cho doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo và các chương trình, dự án VHNT có tính sáng tạo đột phá, tiềm năng thị trường, khả năng thương mại, lan tỏa và tác động xã hội.

Nghị định số 282/2026/NĐ-CP ngày 14-7-2026 quy định chi tiết một số điều và hướng dẫn thi hành Nghị quyết số 28/2026/QH16 tiếp tục cụ thể hóa cơ chế này. Theo đó, thời gian thí điểm của một quỹ là 5 năm kể từ khi thành lập, nhưng không quá cuối năm 2035; nguồn lực gồm vốn điều lệ từ ngân sách Trung ương hoặc địa phương được cấp một lần cùng nguồn vốn góp, tài trợ và các nguồn hợp pháp khác. Đối tượng quỹ hướng tới gồm doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo trong VHNT và các dự án sáng tạo có tiềm năng thị trường, khả năng thương mại, sức lan tỏa, tác động xã hội mà ngân sách nhà nước không cấp kinh phí, trước mắt là trong điện ảnh, mỹ thuật, nhiếp ảnh, bảo tàng và nghệ thuật biểu diễn.

Như vậy, ý nghĩa lớn nhất của cơ chế mới không chỉ là có thêm tiền cho văn hóa, mà là thay đổi cách chúng ta đưa nguồn lực vào văn hóa: Từ cấp phát sang đầu tư; từ Nhà nước làm chủ yếu sang Nhà nước cùng xã hội chia sẻ trách nhiệm; từ tâm lý sợ rủi ro sang quản trị rủi ro; từ hỗ trợ hoạt động sang nuôi dưỡng những sản phẩm, doanh nghiệp và mô hình có khả năng trưởng thành.

Cơ chế đã mở, điều quan trọng là xây dựng được niềm tin

Thực tế trước đây, hệ sinh thái các quỹ dành riêng cho VHNT ở Việt Nam chưa phát triển tương xứng với tiềm năng sáng tạo của xã hội. Có nhiều nguyên nhân. Khung pháp lý cho loại quỹ vừa mang mục tiêu văn hóa, xã hội, vừa có yếu tố đầu tư và chấp nhận rủi ro chưa thật rõ ràng; nguồn tài trợ xã hội thiếu ổn định; cơ chế khuyến khích doanh nghiệp, cá nhân đóng góp cho văn hóa chưa đủ hấp dẫn. Không ít sáng kiến phụ thuộc vào một nhà tài trợ hoặc một chương trình hợp tác nhất định nên khi nguồn tài trợ kết thúc, quỹ hoặc chương trình cũng khó duy trì lâu dài.

Một khó khăn khác sâu xa hơn là chúng ta vẫn quen đánh giá nguồn lực dành cho văn hóa bằng tư duy của chi tiêu hành chính. Tiền ngân sách phải an toàn là yêu cầu hoàn toàn đúng, nhưng nếu áp dụng nguyên xi tư duy “không được thất bại” vào đầu tư sáng tạo thì người quản lý sẽ có xu hướng lựa chọn những dự án an toàn nhất. Khi đó, quỹ đầu tư mạo hiểm rất dễ trở thành một quỹ cấp phát thông thường với một cái tên mới.

Vì thế, khi hành lang pháp lý đã được mở, thách thức lớn nhất sắp tới nằm ở quản trị quỹ. Trước hết, phải bảo đảm tính chuyên nghiệp và tương đối độc lập trong lựa chọn dự án. Người quyết định một kịch bản phim có triển vọng không thể chỉ là cán bộ tài chính; người đánh giá một dự án nghệ thuật số cũng không thể chỉ dựa trên các tiêu chí hành chính. Hội đồng và bộ máy quản lý quỹ cần có sự tham gia thực chất của nghệ sĩ, nhà sản xuất, chuyên gia thị trường, chuyên gia công nghệ, sở hữu trí tuệ, tài chính và quản trị đầu tư. Quan trọng hơn, phải có cơ chế phòng ngừa xung đột lợi ích để người lựa chọn dự án không đồng thời là người được hưởng lợi từ quyết định đó.

Thứ hai, phải công khai ngay từ đầu “luật chơi”: Quỹ đầu tư vào lĩnh vực nào, tiêu chí nào được ưu tiên, quy trình tuyển chọn ra sao, ai là người thẩm định, dự án được hỗ trợ bao nhiêu, kết quả cuối cùng thế nào? Minh bạch không chỉ để chống tiêu cực; minh bạch còn tạo niềm tin. Khi doanh nghiệp nhìn thấy một cơ chế quản trị đáng tin cậy, họ mới sẵn sàng góp vốn. Khi nghệ sĩ tin rằng ý tưởng được đánh giá bằng chất lượng chứ không phải bằng quan hệ, những người giỏi nhất mới muốn tham gia.

Thứ ba, cần xây dựng một cách đánh giá hiệu quả riêng cho đầu tư VHNT. Không thể chỉ hỏi quỹ đã thu về bao nhiêu tiền. Một dự án còn tạo ra công chúng mới, việc làm sáng tạo, tài sản sở hữu trí tuệ, thương hiệu địa phương, quảng bá hình ảnh đất nước, cơ hội xuất khẩu và những hiệu ứng xã hội mà một bảng cân đối tài chính thông thường không phản ánh hết. Tuy nhiên, cũng không vì giá trị văn hóa khó đo lường mà chấp nhận mọi dự án đều có ý nghĩa. Mỗi khoản đầu tư vẫn phải gắn với những chỉ số đầu ra cụ thể và có khả năng kiểm chứng.

Thứ tư, nguồn vốn nhà nước phải thực sự đóng vai trò "vốn mồi". Thành công của quỹ không nên được đo bằng việc ngân sách đã cấp bao nhiêu, mà phải tính đến mỗi đồng vốn công đã huy động thêm được bao nhiêu nguồn lực xã hội, tạo ra bao nhiêu sản phẩm có sức sống và kích hoạt được bao nhiêu hoạt động kinh tế sáng tạo. Nên khuyến khích cơ chế đồng đầu tư, trong đó Nhà nước chia sẻ một phần rủi ro để doanh nghiệp, nhà đầu tư và các quỹ tư nhân mạnh dạn bước vào những lĩnh vực trước đây họ còn e ngại.

Cuối cùng, cần chấp nhận tinh thần đúng nghĩa của một cuộc thí điểm. Có mô hình sẽ thành công, cũng sẽ có dự án không đạt kỳ vọng. Điều cần tránh là thất bại do tùy tiện, lợi ích nhóm, thiếu minh bạch hay năng lực yếu kém. Một thất bại đã được lựa chọn đúng quy trình, được kiểm soát và cung cấp bài học cho những vòng đầu tư tiếp theo là một phần bình thường của đổi mới sáng tạo.

Chúng ta đang nói nhiều về việc biến văn hóa thành nguồn lực nội sinh và biến công nghiệp văn hóa thành một động lực tăng trưởng mới. Khi Nhà nước cung cấp “vốn mồi”, thị trường cung cấp năng lực đầu tư, giới chuyên môn bảo đảm chất lượng, còn nghệ sĩ và doanh nghiệp mang đến trí tưởng tượng cùng khát vọng sáng tạo, chúng ta có thể hình thành một hệ sinh thái trong đó những ý tưởng hay không còn chết yểu chỉ vì thiếu một cơ hội ban đầu. Đó có lẽ cũng là thước đo cuối cùng của Quỹ VHNT: Không phải quỹ lớn đến đâu, mà từ nguồn lực ấy, chúng ta tạo ra được bao nhiêu giá trị văn hóa mới cho đất nước và bao nhiêu cơ hội để tài năng Việt Nam được tỏa sáng.

Thích