Tin tức & Xã hội Văn hóa

A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

TS. Nguyễn Sĩ Dũng: Việt Nam chủ động định vị lại vai trò trong trật tự khu vực mới

Theo TS. Nguyễn Sĩ Dũng, chuyến thăm cấp Nhà nước của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tới 3 nước mang một thông điệp nhất quán: Việt Nam chủ động định vị lại vai trò trong trật tự khu vực mới.

Nhân dịp Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm vừa kết thúc tốt đẹp chuyến thăm cấp Nhà nước tới 3 nước: Thái Lan, Singapore và Philippines, cùng bài phát biểu dẫn đề lịch sử tại Đối thoại Shangri-La 23, vị thế quốc gia trên trường quốc tế ngày càng được củng cố.

Để hiểu sâu sắc hơn ý nghĩa chiến lược của các sự kiện ngoại giao quan trọng này, phóng viên Báo Công Thương đã có cuộc trò chuyện cùng Tiến sĩ Nguyễn Sĩ Dũng - nguyên Phó Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội, thành viên Nhóm tư vấn của Thủ tướng Chính phủ về những cơ hội lớn trong thương mại, đầu tư, kinh tế số, chuyển đổi xanh và cơ chế thực thi linh hoạt giúp đất nước tự tin bứt phá trong kỷ nguyên mới.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm trả lời phỏng vấn với phóng viên Reuters bên lề Đối thoại Shangri-La lần thứ 23. Ảnh: TTXVN

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm trả lời phỏng vấn với phóng viên Reuters bên lề Đối thoại Shangri-La lần thứ 23. Ảnh: TTXVN

- Thưa ông, phát biểu dẫn đề của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Đối thoại Shangri-La 23 đã gây tiếng vang lớn trong cộng đồng quốc tế. Theo ông, thông điệp có ý nghĩa ra sao trong định vị lại vai trò của Việt Nam tại ASEAN và với các đối tác chiến lược?

Tiến sĩ Nguyễn Sĩ Dũng: Phát biểu dẫn đề của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Đối thoại Shangri-La 23 có ý nghĩa vượt ra ngoài khuôn khổ của một bài phát biểu đối ngoại thông thường.

Theo tôi, phát biểu này là một tuyên ngôn về vị thế, tầm nhìn và trách nhiệm của Việt Nam trong một thế giới đang chuyển động rất nhanh bởi cạnh tranh địa chiến lược, xung đột lợi ích và những bất định ngày càng gia tăng.

Điều cần nói ở đây, tại Đối thoại Shangri-La, Việt Nam đã thể hiện vai trò của một chủ thể có quan điểm, có tiếng nói và có những đóng góp riêng cho hòa bình, ổn định và hợp tác khu vực, không phải với tư cách một quốc gia đứng bên lề để quan sát cạnh tranh giữa các nước lớn.

Thông điệp xuyên suốt trong phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước là đề cao đối thoại thay cho đối đầu, hợp tác thay cho chia rẽ, xây dựng lòng tin thay cho gia tăng nghi kỵ - những lợi ích mà Việt Nam, ASEAN và của cả khu vực châu Á - Thái Bình Dương cùng hướng đến.

Trong khi thế giới đang chứng kiến xu hướng phân cực ngày càng mạnh, nhiều quốc gia bị đặt trước sức ép phải lựa chọn phe hoặc lựa chọn bên, Việt Nam một lần nữa khẳng định giá trị của đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế; chọn sự chủ động kiến tạo không gian hợp tác, đóng góp vào việc duy trì cân bằng chiến lược và giảm thiểu các nguy cơ xung đột.

Tôi cho rằng, ý nghĩa lớn nhất của phát biểu này cho thấy, Việt Nam đang từng bước chuyển từ vị thế "tham gia" sang vị thế "đóng góp", từ vị thế "được lắng nghe" sang vị thế "được tham vấn".

Trong ASEAN, Việt Nam ngày càng thể hiện vai trò là một thành viên có trách nhiệm, có khả năng kết nối các lợi ích khác biệt và thúc đẩy đồng thuận khu vực. Đối với các đối tác chiến lược, ngoài được nhìn nhận như một thị trường năng động hay một mắt xích quan trọng trong chuỗi cung ứng toàn cầu, Việt Nam còn được xem là đối tác đáng tin cậy về chính trị, an ninh và phát triển.

Nói cách khác, thông điệp từ Đối thoại Shangri-La đã phản ánh vị thế hiện tại của Việt Nam và phát đi một tín hiệu mạnh mẽ về tương lai: Việt Nam sẵn sàng tham gia sâu hơn vào quá trình định hình các luật chơi, các chuẩn mực và các cấu trúc hợp tác mới của khu vực - một quốc gia đang tự tin bước vào giai đoạn phát triển mới với khát vọng và trách nhiệm lớn hơn.

Tổng thống Philippines Ferdinand Romualdez Marcos Jr. đón Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm. Ảnh: TTXVN

Tổng thống Philippines Ferdinand Romualdez Marcos Jr. đón Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm. Ảnh: TTXVN

- Nhiều văn kiện hợp tác đã được ký kết trong khuôn khổ các chuyến thăm. Theo ông, Việt Nam cần những cơ chế nào để hiện thực hoá các cam kết đó?

Tiến sĩ Nguyễn Sĩ Dũng: Sau các chuyến thăm cấp cao cần lập ngay các nhóm công tác liên ngành cho từng lĩnh vực ưu tiên như thương mại, logistics, năng lượng sạch, nông nghiệp công nghệ cao, kinh tế số, du lịch, tài chính và kết nối chuỗi cung ứng.

Mỗi nhóm phải có đầu mối chịu trách nhiệm, mục tiêu định lượng, thời hạn hoàn thành và cơ chế báo cáo định kỳ lên cấp có thẩm quyền.

Thứ hai, cần lựa chọn một số dự án biểu tượng để triển khai sớm. Với Thái Lan, có thể ưu tiên kết nối chuỗi cung ứng công nghiệp, nông sản, bán lẻ, logistics và du lịch liên vùng. Với Philippines, trọng tâm có thể là hợp tác thương mại gạo, an ninh lương thực, kinh tế biển, cảng biển, năng lượng tái tạo và chuyển đổi số. Không nên dàn trải quá nhiều lĩnh vực; phải chọn những việc có thể tạo kết quả nhanh, lan tỏa mạnh và chứng minh được niềm tin chính trị bằng lợi ích kinh tế cụ thể.

Thứ ba, phải chuyển từ tư duy “ký kết hợp tác” sang tư duy “quản trị danh mục cam kết”. Mỗi văn kiện cần được biến thành một danh mục đầu việc cụ thể: ai làm, làm với ai, nguồn lực ở đâu, vướng mắc pháp lý là gì, thời hạn nào phải hoàn thành. Nếu không có cơ chế theo dõi đến cùng, nhiều cam kết sẽ dễ rơi vào tình trạng “đúng về ngoại giao nhưng chậm trong thực thi”.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và Thủ tướng Thái Lan Anutin Charnvirakul đi qua đội quân nhạc trong chuyến thăm cấp Nhà nước vừa qua. Ảnh: Minh Thắng

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và Thủ tướng Thái Lan Anutin Charnvirakul đi qua đội quân nhạc trong chuyến thăm cấp Nhà nước vừa qua. Ảnh: Minh Thắng

Thứ tư, cần huy động mạnh hơn khu vực doanh nghiệp. Nhà nước tạo khuôn khổ nhưng doanh nghiệp mới là chủ thể biến quan hệ đối tác thành thương mại, đầu tư và đổi mới công nghệ. Vì vậy, các diễn đàn doanh nghiệp sau chuyến thăm phải được nối tiếp bằng cơ chế hỗ trợ dự án cụ thể, xúc tiến đầu tư có chọn lọc, tháo gỡ thủ tục nhanh và kết nối trực tiếp giữa doanh nghiệp hai nước.

Theo tôi, thành công của các chuyến thăm được đo bằng năng lực biến các văn kiện đó thành dòng chảy kinh tế thực chất. Ngoại giao đã mở cánh cửa; điều quan trọng bây giờ là quản trị thực thi đủ thông minh, đủ nhanh và đủ trách nhiệm để bước qua cánh cửa ấy.

Tiến sĩ Nguyễn Sĩ Dũng - nguyên Phó Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội, thành viên Nhóm tư vấn của Thủ tướng Chính phủ. Ảnh: Nguyên Khánh

Tiến sĩ Nguyễn Sĩ Dũng - nguyên Phó Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội, thành viên Nhóm tư vấn của Thủ tướng Chính phủ. Ảnh: Nguyên Khánh

- Cả ba chuyến thăm đều đặt trọng tâm vào kinh tế số, trí tuệ nhân tạo và chuyển đổi xanh. Với Singapore, hai bên đã ký kết hàng loạt văn kiện hợp tác về AI và công nghệ cao. Việt Nam cần làm gì để đưa cơ hội thành lợi thế cạnh tranh quốc gia thực sự, thưa ông?

Tiến sĩ Nguyễn Sĩ Dũng: Theo tôi, điểm then chốt ở đây ngoài những cam kết lớn về kinh tế số, trí tuệ nhân tạo và chuyển đổi xanh, Việt Nam còn phải có năng lực hấp thụ đủ mạnh để biến các cam kết đó thành năng lực phát triển của chính mình.

Cơ hội từ hợp tác với Singapore và các đối tác trong khu vực là rất lớn. Singapore có thế mạnh về quản trị, tài chính, công nghệ cao, dữ liệu, AI, logistics và kinh tế xanh. Nhưng nếu trong nước không chuẩn bị tốt về thể chế, nhân lực, hạ tầng số, dữ liệu và năng lực doanh nghiệp, thì cơ hội dù lớn cũng chỉ dừng lại ở bên ngoài nền kinh tế. Nói cách khác, ngoại giao có thể mở cửa,nhưng năng lực hấp thụ mới quyết định chúng ta bước vào được bao xa.

Trước hết, Việt Nam cần hoàn thiện nhanh thể chế cho đổi mới sáng tạo. AI, công nghệ cao và kinh tế xanh đều phát triển nhanh hơn tốc độ làm luật truyền thống. Vì vậy, phải mạnh dạn áp dụng cơ chế thử nghiệm có kiểm soát, khuôn khổ sandbox, chia sẻ dữ liệu an toàn, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và cơ chế đặt hàng công cho công nghệ mới.

Phải coi nhân lực là hạ tầng chiến lược. Không thể có nền kinh tế AI nếu thiếu kỹ sư dữ liệu, chuyên gia an ninh mạng, nhà quản trị công nghệ, doanh nhân đổi mới sáng tạo và đội ngũ công chức hiểu công nghệ. Việt Nam cần chương trình đào tạo lại quy mô lớn, gắn đại học với doanh nghiệp, gắn nghiên cứu với thị trường và gắn hợp tác quốc tế với chuyển giao năng lực thật sự.

Đồng thời, phải nâng cấp năng lực của doanh nghiệp trong nước; có chính sách hỗ trợ doanh nghiệp Việt tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng số, xanh và công nghệ cao; khuyến khích liên doanh, mua công nghệ, đồng nghiên cứu và phát triển sản phẩm chung với các đối tác Singapore.

Điều quan trọng nữa là, Nhà nước phải chuyển từ vai trò cấp phép sang vai trò kiến tạo thị trường. Với chuyển đổi xanh, cần có thị trường carbon, tiêu chuẩn xanh, tín dụng xanh, mua sắm công xanh. Với AI và kinh tế số, cần có dữ liệu mở, hạ tầng điện toán, hành lang pháp lý cho mô hình kinh doanh mới và cơ chế bảo vệ người dân trước rủi ro công nghệ.

Xin trân trọng cảm ơn ông!

Tiến sĩ Nguyễn Sĩ Dũng: "Cơ hội ngoại giao chỉ trở thành lợi thế cạnh tranh khi được hấp thụ bằng thể chế thông minh, nhân lực chất lượng cao, doanh nghiệp đủ năng lực và một Nhà nước kiến tạo thị trường – đây cũng là phép thử lớn của Việt Nam trong giai đoạn bứt phá hiện nay".

Nguyên Khánh
Thích