Việc xây dựng Quy hoạch tổng thể TP. Hồ Chí Minh đến năm 2050, tầm nhìn 100 năm được xem là cơ hội để thành phố tái cấu trúc mô hình tăng trưởng, mở rộng không gian phát triển và hình thành các động lực kinh tế mới.
Trao đổi với phóng viên Báo Công Thương, TS. Đỗ Thị Loan, nguyên Phó Chủ tịch Hiệp hội Bất động sản TP. Hồ Chí Minh (HoREA), cho rằng công nghiệp công nghệ cao, logistics, kinh tế biển và hạ tầng chiến lược sẽ là những lĩnh vực hưởng lợi lớn từ định hướng phát triển mới của thành phố.

TS. Đỗ Thị Loan, Nguyên Phó Chủ tịch Hiệp hội Bất động sản TP.HCM (HoREA), trao đổi với phóng viên Báo Công Thương về định hướng mở rộng không gian phát triển của TP. Hồ Chí Minh. Ảnh: KL
Siêu đô thị: Động lực mới cho tăng trưởng TP. Hồ Chí Minh
- Báo cáo góp ý Quy hoạch tổng thể TP. Hồ Chí Minh đến năm 2050, tầm nhìn 100 năm đề xuất nhiều định hướng mới về tổ chức không gian phát triển. Theo bà, đâu là ý nghĩa lớn nhất của quy hoạch lần này?
TS. Đỗ Thị Loan: Điều quan trọng nhất là quy hoạch đã tiếp cận theo tư duy phát triển dài hạn thay vì chỉ giải quyết các nhu cầu trước mắt.
Trong nhiều năm qua, TP. Hồ Chí Minh luôn giữ vai trò đầu tàu kinh tế của cả nước, đóng góp lớn cho tăng trưởng, ngân sách, xuất nhập khẩu và thu hút đầu tư nước ngoài. Tuy nhiên, quá trình phát triển nhanh cũng khiến thành phố đối mặt với nhiều thách thức như quá tải hạ tầng, ùn tắc giao thông, áp lực dân số, thiếu quỹ đất phát triển và chi phí logistics ngày càng gia tăng.
Những động lực tăng trưởng truyền thống dựa trên mở rộng không gian đô thị, khai thác đất đai hay lợi thế lao động giá rẻ đang dần đến giới hạn. Trong khi đó, bối cảnh mới đặt ra yêu cầu phải chuyển sang mô hình tăng trưởng dựa trên đổi mới sáng tạo, công nghệ, chất lượng nguồn nhân lực và hiệu quả sử dụng tài nguyên.

Không gian phát triển mới được kỳ vọng tạo nền tảng để TP.HCM hình thành các động lực tăng trưởng mới về công nghiệp, logistics và dịch vụ chất lượng cao. Ảnh: ST
Tôi cho rằng điểm tích cực của quy hoạch là đã nhìn nhận TP. Hồ Chí Minh trong mối liên kết với vùng Đông Nam Bộ và cả nước, từ đó mở rộng không gian phát triển theo hướng đa trung tâm, kết nối mạnh hơn với các hành lang kinh tế, cảng biển, sân bay và các cực tăng trưởng mới.
Đây là nền tảng để thành phố tiếp tục duy trì vai trò đầu tàu kinh tế quốc gia trong nhiều thập niên tới.
Mục tiêu không chỉ là mở rộng quy mô đô thị mà là từng bước hình thành một siêu đô thị hiện đại, đa trung tâm, có năng lực cạnh tranh quốc tế và khả năng phát triển bền vững trong dài hạn.
- Báo cáo xác định công nghiệp công nghệ cao và logistics quốc tế là một trong những cực động lực phát triển của thành phố. Theo bà, định hướng này sẽ tạo ra những thay đổi gì?
TS. Đỗ Thị Loan: Tôi cho rằng đây là hướng đi rất phù hợp với xu thế phát triển hiện nay. Các trung tâm kinh tế lớn trên thế giới đều đang cạnh tranh bằng năng lực công nghệ, đổi mới sáng tạo và khả năng tham gia sâu vào chuỗi cung ứng toàn cầu. TP. Hồ Chí Minh cũng không nằm ngoài xu thế đó.
Khi không gian phát triển được mở rộng, thành phố sẽ có thêm điều kiện để bố trí các khu công nghiệp thế hệ mới, khu công nghệ cao, trung tâm dữ liệu, trung tâm đổi mới sáng tạo và các khu logistics quy mô lớn. Đây là những lĩnh vực có khả năng tạo ra giá trị gia tăng cao hơn nhiều so với mô hình phát triển truyền thống.
Đặc biệt, công nghiệp công nghệ cao không chỉ tạo việc làm chất lượng cao mà còn thúc đẩy chuyển giao công nghệ, nâng cao năng suất lao động và tăng sức cạnh tranh của nền kinh tế.
Đối với bất động sản công nghiệp, việc hình thành các cực tăng trưởng mới sẽ mở ra dư địa phát triển rất lớn. Nhu cầu về đất công nghiệp, kho bãi, trung tâm logistics, hạ tầng phục vụ sản xuất sẽ tăng lên cùng với quá trình dịch chuyển đầu tư và mở rộng sản xuất.
Có thể nói, quy hoạch lần này không chỉ tác động đến cấu trúc đô thị mà còn tác động trực tiếp đến cấu trúc kinh tế của thành phố.
Hạ tầng chiến lược tạo sức bật cho công nghiệp và dịch vụ logistics
- Nhiều ý kiến cho rằng logistics sẽ là lĩnh vực hưởng lợi lớn nhất từ không gian phát triển mới. Bà nhìn nhận thế nào?
TS. Đỗ Thị Loan: Tôi đồng tình với nhận định đó. Trong nhiều năm qua, chi phí logistics luôn là một trong những vấn đề ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam. Một trong những nguyên nhân là hạ tầng kết nối chưa thật sự đồng bộ giữa các khu công nghiệp, cảng biển, sân bay và trung tâm tiêu dùng.
Quy hoạch mới đặt logistics vào vị trí trung tâm của quá trình phát triển. Điều này rất quan trọng.

Hệ thống cảng biển và logistics được xem là một trong những trụ cột nâng cao năng lực cạnh tranh của TP.HCM trong giai đoạn phát triển mới. Ảnh: TTCL
Khi các tuyến vành đai, cao tốc liên vùng, hệ thống metro, cảng biển quốc tế và sân bay Long Thành được kết nối hiệu quả, doanh nghiệp sẽ giảm đáng kể chi phí vận chuyển, lưu kho và thời gian giao nhận hàng hóa.
Bên cạnh hệ thống cảng Cái Mép – Thị Vải và Sân bay quốc tế Long Thành, Cảng Quốc tế Long An sẽ góp phần hoàn thiện mạng lưới logistics liên kết giữa TP. Hồ Chí Minh, vùng Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long.
Không chỉ phục vụ nhu cầu nội địa, hệ thống logistics hiện đại còn giúp nâng cao năng lực xuất khẩu, thu hút đầu tư nước ngoài và gia tăng vai trò của TP. Hồ Chí Minh trong chuỗi cung ứng khu vực.
Tôi cho rằng trong tương lai, cạnh tranh giữa các đô thị sẽ không chỉ là cạnh tranh về quy mô dân số hay quỹ đất mà là cạnh tranh về tốc độ kết nối và hiệu quả logistics.
- Báo cáo cũng dành nhiều nội dung cho chiến lược phát triển kinh tế biển. Theo bà, đây có thể trở thành động lực tăng trưởng mới của thành phố hay không?
TS. Đỗ Thị Loan: Hoàn toàn có thể. Trong nhiều năm, TP. Hồ Chí Minh được biết đến như trung tâm kinh tế, tài chính và thương mại lớn nhất cả nước. Tuy nhiên, khi nhìn ở góc độ không gian phát triển mới, chúng ta sẽ thấy lợi thế biển của thành phố và cả vùng Đông Nam Bộ là rất lớn.
Sự kết nối giữa Cần Giờ, hệ thống cảng Cái Mép - Thị Vải, sân bay Long Thành, các khu công nghiệp ven biển và mạng lưới logistics khu vực đang tạo ra cơ hội hình thành một không gian kinh tế biển quy mô lớn.
Kinh tế biển không chỉ là cảng biển hay vận tải biển mà còn bao gồm logistics, dịch vụ thương mại quốc tế, công nghiệp hỗ trợ, công nghiệp chế biến, du lịch và nhiều ngành kinh tế khác.
Nếu được đầu tư đồng bộ, đây sẽ là động lực tăng trưởng mới giúp thành phố mở rộng không gian phát triển ra phía biển, giảm áp lực cho khu vực nội đô và tăng cường kết nối quốc tế.
Trong tương lai, kinh tế biển không chỉ bao gồm cảng biển và logistics mà còn mở rộng sang các lĩnh vực có giá trị gia tăng cao như dịch vụ hàng hải, công nghiệp biển, năng lượng tái tạo ngoài khơi và các ngành kinh tế biển mới.
Đây cũng là cơ hội để TP. Hồ Chí Minh phát huy vai trò trung tâm giao thương của khu vực phía Nam.
Phát triển bền vững bắt đầu từ chất lượng sống
- Một trong những điểm mới của báo cáo là định hướng phát triển đô thị đa trung tâm. Theo bà, mô hình này có ý nghĩa như thế nào đối với doanh nghiệp và thị trường?
TS. Đỗ Thị Loan: Mô hình đô thị đa trung tâm là xu hướng tất yếu đối với các siêu đô thị hiện đại.
Hiện nay, quá nhiều hoạt động kinh tế, thương mại, dịch vụ và dân cư vẫn tập trung vào khu vực trung tâm. Điều này tạo áp lực rất lớn lên hạ tầng, giao thông và môi trường sống.

Hạ tầng giao thông chiến lược được kỳ vọng tạo nền tảng kết nối vùng, mở rộng không gian phát triển và nâng cao năng lực cạnh tranh của TP. Hồ Chí Minh . Ảnh: Hoàng Triều
Khi thành phố phát triển theo mô hình đa trung tâm, các khu vực mới sẽ được đầu tư đồng bộ về giao thông, hạ tầng xã hội, dịch vụ công và không gian sản xuất kinh doanh. Điều đó giúp phân bổ lại nguồn lực phát triển, giảm áp lực cho khu vực trung tâm hiện hữu.
Đối với doanh nghiệp, đây là cơ hội để tiếp cận quỹ đất mới với chi phí hợp lý hơn, đồng thời tận dụng các lợi thế về hạ tầng và kết nối vùng.
Đối với người dân, mô hình này góp phần nâng cao chất lượng sống, rút ngắn thời gian di chuyển và tạo thêm cơ hội việc làm tại nơi cư trú.
- Theo bà, đâu là điều kiện quan trọng nhất để hiện thực hóa mục tiêu đưa TP. Hồ Chí Minh trở thành siêu đô thị cạnh tranh quốc tế vào năm 2050?
TS. Đỗ Thị Loan: Theo tôi, có ba điều kiện mang tính quyết định.
Thứ nhất là hạ tầng phải đi trước một bước. Không chỉ là giao thông mà còn là hạ tầng năng lượng, hạ tầng số, logistics và các nền tảng phục vụ kinh tế số.
Thứ hai là cơ chế huy động nguồn lực. Thành phố cần phát triển mạnh các hình thức hợp tác công - tư, các quỹ đầu tư hạ tầng, thị trường vốn và các công cụ tài chính hiện đại để đáp ứng nhu cầu đầu tư rất lớn trong tương lai.
Thứ ba là hoàn thiện thể chế và nâng cao hiệu quả quản trị đô thị. Trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu ngày càng gay gắt, khả năng ra quyết định nhanh, điều phối hiệu quả và tạo môi trường đầu tư minh bạch sẽ là yếu tố quyết định sức hấp dẫn của thành phố.

Phát triển công nghiệp công nghệ cao được xác định là một trong những động lực tăng trưởng của TP. Hồ Chí Minh trong tầm nhìn đến năm 2050. Ảnh: ST
Tôi tin rằng với vị thế đầu tàu kinh tế của cả nước, cùng không gian phát triển mới, nền tảng hạ tầng chiến lược và các cơ chế thể chế phù hợp, TP. Hồ Chí Minh hoàn toàn có cơ hội phát triển trở thành một siêu đô thị hiện đại, là trung tâm kinh tế, tài chính, logistics, đổi mới sáng tạo và chất lượng sống hàng đầu khu vực Châu Á – Thái Bình Dương trong những thập niên tới.
Theo TS. Đỗ Thị Loan, mục tiêu của TP. Hồ Chí Minh không chỉ là duy trì tăng trưởng kinh tế mà còn phải nâng cao chất lượng phát triển.
Một siêu đô thị hiện đại cần bảo đảm người dân được tiếp cận công bằng hơn với nhà ở, giáo dục, y tế, giao thông công cộng và cơ hội việc làm. Thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các nhóm dân cư sẽ là một trong những thách thức quan trọng trên hành trình phát triển bền vững của TP. Hồ Chí Minh đến năm 2050.

