Để hiểu rõ hơn về điều này, phóng viên Báo Công Thương đã có cuộc trao đổi với Tiến sĩ Dư Văn Toán, Viện Khoa học Khí tượng Thủy Văn, Môi trường và Biển - Bộ Nông nghiệp và Môi trường.
Có cơ sở pháp lý, nền tảng phát triển điện gió và điện mặt trời
- Nghị quyết số 70-NQ/TW ngày 20/8/2025 của Bộ Chính trị về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 đã định hướng cụ thể về phát triển năng lượng tái tạo, năng lượng mới. Vậy, lĩnh vực năng lượng này sẽ có cơ hội phát triển như thế nào so với giai đoạn trước, thưa ông?
Tiến sĩ Dư Văn Toán: Với định hướng của Nghị quyết số 70, các dạng năng lượng tái tạo, năng lượng mới như điện mặt trời, điện gió ngoài khơi, hydro xanh chắc chắn có cơ sở để phát triển.
Nhờ Nghị quyết của Bộ Chính trị về định hướng phát triển năng lượng quốc gia đến năm 2050, các dạng năng lượng tái tạo và năng lượng mới, đặc biệt là điện mặt trời, điện gió cũng như các loại nhiên liệu như amoniac xanh, hydro xanh chắc chắn sẽ có cơ sở để phát triển.
Tuy nhiên, hiện nay chúng ta vẫn chưa làm chủ được hệ sinh thái hay chuỗi cung ứng nội địa cho các lĩnh vực này. Dù vậy, thông qua các định hướng chỉ đạo của Đảng, Chính phủ và Quốc hội, Việt Nam đã bước đầu tạo được cơ sở pháp lý và nền tảng để trước mắt phát triển điện gió và điện mặt trời.

Tiến sĩ Dư Văn Toán trả lời phỏng vấn phóng viên
Theo tôi, trong các giải pháp cấp bách hiện nay thì điện mặt trời mái nhà là hướng đi phù hợp và có thể hỗ trợ nhanh nhất cho vấn đề an ninh năng lượng, đặc biệt ở khu vực miền Bắc. Còn về lâu dài, theo xu hướng thế giới, điện mặt trời sẽ tiếp tục là nguồn năng lượng có đóng góp vượt trội so với nhiều loại hình khác.
Ở Việt Nam, ngoài điện mặt trời thì điện gió, đặc biệt là điện gió ngoài biển, bao gồm điện gió ven bờ và điện gió ngoài khơi, cũng có tiềm năng rất lớn. Trong Quy hoạch điện VIII điều chỉnh mới đây, điện gió ngoài khơi đã được đặt ra với quy mô khá lớn.
Với tiềm năng điện gió ngoài khơi của Việt Nam, theo định hướng đến năm 2030, Việt Nam cần phát triển 6.000 MW; đến năm 2035 cần phát triển 15.000 MW và đến năm 2050 phải có 139.000 MW. Đây là những con số rất lớn và điện gió ngoài khơi có thể đóng góp khoảng 20-25% tổng công suất điện quốc gia.
- Thời gian qua, khó khăn trong việc xin giấy phép khảo sát dự án điện gió ngoài khơi này đã được tháo gỡ như thế nào, thưa ông?
Tiến sĩ Dư Văn Toán: Sau khi Luật Điện lực (sửa đổi) có hiệu lực, đến nay, khó khăn này đang dần được tháo gỡ. Cụ thể, cơ quan quản lý đã cấp phép cho dự án khởi động quan trọng ở Nam Trung Bộ của Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam (Petrovietnam) và dự án ở vịnh Bắc Bộ (quần đảo Long Châu và Bạch Long Vĩ) của Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN).
Gần đây, cơ quan quản lý đã cấp phép cho Tổng Công ty Cổ phần Dịch vụ Kỹ thuật Dầu khí Việt Nam (PTSC) - đơn vị thành viên của Petrovietnam để nghiên cứu đánh giá tiềm năng gió và các yếu tố kỹ thuật cho dự án xuất khẩu điện gió ngoài khơi cho Malaysia và Singapore ở khu vực Bình Thuận.

Công trường sản xuất các chân đế điện gió của Petrovietnam.
Mới đây nhất, cơ quan quản lý cũng cấp giấy phép cho Pacifico Energy (PE) - tập đoàn năng lượng tái tạo hàng đầu của Mỹ và Tập đoàn Sumitomo (Nhật Bản) để khảo sát điện gió ngoài khơi.
Có thể nói, bước đầu Việt Nam đã tạo lập được hành lang pháp lý và kỹ thuật cho phát triển điện gió ngoài khơi. Nếu các tiến trình khảo sát thuận lợi, sự phát triển điện gió ngoài khơi không chỉ mang lại cơ hội cho các doanh nghiệp trong nước mà cả các doanh nghiệp nước ngoài. Đồng thời, hành lang pháp lý cũng như cơ sở kỹ thuật bước đầu đã được hình thành cho lĩnh vực này.
- Theo ông, còn cần thêm những cơ chế, chính sách gì để hỗ trợ việc biến tiềm năng điện gió thành hiện thực?
Tiến sĩ Dư Văn Toán: Đối với điện gió trên bờ thì có thể nói hiện nay chúng ta đã tương đối đầy đủ về cơ sở pháp lý cũng như kỹ thuật. Còn đối với điện gió ngoài khơi, theo các số liệu đánh giá của các tổ chức và công ty năng lượng, thực tế Việt Nam đã có bước phát triển nhất định.
Hiện Việt Nam đã nối lưới được khoảng 1.500 MW điện gió ven bờ biển ở các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long. Theo đó, các công ty của Việt Nam và các công ty liên doanh nước ngoài đã bước đầu sử dụng công nghệ móng cọc đơn (monopile) để phát triển điện gió ven bờ biển với công suất vài trăm MW. Đây chính là nền tảng kỹ thuật khả thi để áp dụng công nghệ monopile này cho các dự án điện gió ngoài khơi xây dựng ngoài phạm vi 6 hải lý.
Về cơ sở pháp lý, Luật Điện lực 2024 đã có nội dung về năng lượng tái tạo và năng lượng mới nhưng vẫn chỉ là cơ sở ban đầu, sơ bộ về điện gió ngoài khơi. Thực tế là, điện gió ngoài khơi vẫn là ngành tương đối mới trên thế giới và chỉ phát triển mạnh khoảng 10 năm lại đây. Mới đây, các nước như Australia hay Ba Lan đã ban hành luật điện gió ngoài khơi, trong đó hướng dẫn cụ thể với: Nghiên cứu sơ bộ, khảo sát, đánh giá, giấy phép môi trường, yếu tố kỹ thuật về thu phí nối lưới, thu phí biển…
Đặc biệt, giá mua điện gió ngoài khơi cũng là vấn đề đáng quan tâm. Tính toán của Viện Khoa học Khí tượng Thủy Văn, Môi trường và Biển cho thấy với khung giá điện 3 miền dao động từ 12-15 cent USD/kWh điện gió ngoài khơi, nếu ở mức giá cao, các doanh nghiệp nước ngoài đầu tư vào Việt Nam sẽ có thể thu được lợi nhuận. Tuy nhiên, đến thời điểm này, các hợp đồng mua bán điện áp dụng theo cơ chế giá điện FIT1, FIT2 (cơ chế hỗ trợ năng lượng tái tạo áp dụng cho các dự án trước năm 2021) không còn duy trì… nên cần phải tính toán lại để đảm bảo hài hoà lợi ích giữa các bên.
Ngoài ra, chính sách khuyến khích đầu tư điện gió ngoài khơi cũng cần tính đến chính sách hỗ trợ về phí mặt biển, đáy biển. Theo đó, có thể thu phí các dự án gần bờ nhưng chưa thu phí dự án xa bờ trong giai đoạn đầu để các công ty Việt Nam có thể thực hiện trọn gói dịch vụ từ: Khảo sát đến thi công, lắp đặt, vận hành sửa chữa, dịch vụ cầu cảng… Từ năm 2030 trở đi, khi các doanh nghiệp nội địa đã vững vàng, nhà nước có thể thu phí mặt biển, đáy biển.

Tiến sĩ Dư Văn Toán, Viện Khoa học Khí tượng Thủy Văn, Môi trường và Biển - Bộ Nông nghiệp và Môi trường.
Thực tế là các công ty thành viên của Petrovietnam hiện đang thực hiện nhiều hợp đồng dịch vụ cho các hãng điện gió ngoài khơi của nước ngoài. Nếu áp dụng các chính sách hỗ trợ như vậy, Việt Nam sẽ có một số công ty có đủ hợp phần dịch vụ hạ tầng điện gió ngoài khơi; tăng sức cạnh tranh cho doanh nghiệp nội địa khi mở cửa cho công ty nước ngoài, từ đó có giá điện gió ngoài khơi hợp lý hơn.
Các doanh nghiệp Việt Nam cũng như các liên doanh với đối tác nước ngoài bước đầu đã làm chủ được một số công nghệ nền móng đơn cho các dự án vài trăm MW. Đây cũng là nền tảng để tiến tới áp dụng công nghệ móng đơn cho các dự án điện gió ngoài khơi quy mô lớn hơn.
Về mặt kỹ thuật có thể thấy rằng một số doanh nghiệp và nhà thầu trong nước đã có khả năng triển khai điện gió ngoài khơi, tức là đã có thể thực hiện các hạng mục kỹ thuật ngoài biển. Công nghệ này hiện nay cũng đã có thể áp dụng cho các dự án ngoài 6 hải lý. Như vậy, về kỹ thuật thì Việt Nam cơ bản đã có năng lực nhất định.
Bước đi đúng hướng và phù hợp với xu thế quốc tế
- Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, hiện nhiều tập đoàn lớn trên thế giới khi phát triển điện gió ngoài khơi thường tích hợp với sản xuất hydro xanh, để giúp tối ưu hiệu quả kinh tế của điện gió. Được biết, Petrovietnam cũng đang có những định hướng như vậy, ông đánh giá thế nào về tính khả thi của mô hình tích hợp điện gió ngoài khơi với hydro xanh?
Tiến sĩ Dư Văn Toán: Khoảng 5 - 6 năm trở lại đây, các dự án điện gió ngoài khơi trên thế giới khi triển khai đầu tư đều được khuyến nghị kết hợp với sản xuất hydro xanh. Khi hình thành nhà máy sản xuất điện gió ngoài khơi nối lưới, nếu không được mua hết sản lượng ở một vài thời điểm, doanh nghiệp có thể sử dụng năng lượng còn thừa đó cho sản xuất hydro từ việc phân tách nước biển, từ đó tối ưu hiệu quả kinh tế cho nhà máy điện gió ngoài khơi.
Đặc biệt, hydro xanh hiện đã được sử dụng rộng rãi trong nền kinh tế như làm nhiên liệu cho ô tô vận tải, các tàu dịch vụ ven biển… Hướng tới mục tiêu đưa phát thải ròng về 0 vào năm 2050, cảng biển xanh ở Việt Nam cũng bước đầu sử dụng hydro xanh một số phương tiện lai dắt hoặc tàu cỡ nhỏ trong vùng cảng biển.
Thực tế là mô hình đảo điện gió ngoài khơi của Đan Mạch, Hà Lan trên biển Bắc, với công suất lên tới 10 GW đến hơn 28 GW, đều được thiết kế tích hợp sản xuất hydro xanh và kết nối lưới điện để cung cấp cho các quốc gia châu Âu, hướng tới mục tiêu trung hòa carbon.
Vì vậy, Việt Nam hoàn toàn có thể tham khảo mô hình nhà máy điện gió ngoài khơi tích hợp sản xuất hydro xanh này để vừa đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia, đồng thời thực hiện mục tiêu giảm phát thải.
- Dự thảo Luật Dầu khí (sửa đổi) đã có các đề xuất liên quan đến chuỗi giá trị năng lượng mới trong đó có hydro xanh. Vậy ông kỳ vọng gì nếu Dự thảo này được thông qua vào kỳ họp Quốc hội tới đây?
Tiến sĩ Dư Văn Toán: Hiện nay có khoảng 30 quốc gia trên thế giới đã có chiến lược phát triển hydro xanh. Năm 2024, Chính phủ cũng đã ban hành chiến lược phát triển hydro xanh. Vì vậy, việc bổ sung các nội dung liên quan đến hydro xanh trong Dự thảo Luật Dầu khí (sửa đổi) là kịp thời, kỳ vọng cũng sẽ tạo ra các cơ sở pháp lý cho việc phát triển chuỗi cung ứng dịch vụ, chuỗi giá trị năng lượng mới phục vụ mục tiêu không phát thải ròng vào năm 2050.
Hiện nay trên thế giới đã có khoảng 30 quốc gia ban hành chiến lược hoặc văn bản pháp lý liên quan tới sản xuất và ứng dụng hydro xanh, tức là loại hydro được sản xuất từ năng lượng tái tạo như điện mặt trời hay điện gió.
Do đó, nếu các luật sửa đổi sắp tới cập nhật thêm các chuỗi cung ứng, chuỗi dịch vụ cũng như các sản phẩm liên quan tới hydro xanh và amoniac xanh để phục vụ mục tiêu kinh tế Net Zero, thì đây sẽ là bước đi rất đúng hướng và phù hợp với xu thế quốc tế hiện nay.
- Xin trân trọng cảm ơn ông!
Thực tiễn triển khai Luật Dầu khí năm 2022 đòi hỏi phải có những điều chỉnh kịp thời những bất cập và cần thiết phải sửa đổi, bổ sung, hướng tới một khung pháp lý hoàn thiện hơn. Nhiều chuyên gia nhận định, Dự thảo Luật Dầu khí (sửa đổi) đã tiếp cận các xu hướng mới, đặc biệt trong chuyển dịch năng lượng.

