Tin tức & Xã hội Văn hóa

A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Giá trị của thực học, thực nghiệp và thực làm

Trong cuộc hội thảo khoa học quốc gia “Danh nhân văn hóa Lê Quý Đôn-Di sản và giá trị thời đại” nhân kỷ niệm 300 năm Ngày sinh nhà bác học Lê Quý Đôn (2-8-1726 / 2-8-2026) vừa diễn ra tại tỉnh Hưng Yên, một trong những nội dung được nhiều đại biểu quan tâm là làm sáng tỏ về tư duy học thuật, phương pháp khảo cứu và tinh thần “thực học, thực nghiệp, thực làm” của nhà bác học vĩ đại của dân tộc.

Phát biểu tại hội thảo, đồng chí Trịnh Văn Quyết, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương khẳng định, trong cuộc đời chưa đầy 60 năm, Lê Quý Đôn để lại hơn 40 bộ sách bao quát hầu hết lĩnh vực tri thức đương thời, tiêu biểu là "Đại Việt thông sử", "Phủ biên tạp lục", "Vân đài loại ngữ"... Hậu thế tôn vinh ông là nhà bác học lớn nhất của Việt Nam thời phong kiến, nhưng tầm vóc Lê Quý Đôn không đo bằng số lượng trước tác. Đáng suy ngẫm hơn là cách ông làm việc: Đọc để hiểu, đi để biết, viết để truyền lại cho hậu thế. Ông khảo cứu ngay trên đường công vụ, ghi chép từ thực địa, đối chiếu sách vở với đời sống; sách của ông được viết từ những vùng đất ông đã đi, những việc ông đã làm; không bằng lòng với cái biết nửa vời, không lấy cái đúng của người khác làm cái đúng của mình. Đó là tinh thần “thực học, thực nghiệp, thực làm”-điều mà 300 năm sau, chúng ta vẫn còn phải nhắc nhau.

Tinh thần, phương châm “thực học, thực nghiệp, thực làm” của nhà bác học Lê Quý Đôn càng trở nên có ý nghĩa trong công tác giáo dục và đào tạo (GD-ĐT) hiện nay. Trong thời đại công nghệ số, yêu cầu đối với ngành giáo dục không chỉ dừng lại ở việc truyền đạt kiến thức mà còn phải đào tạo những con người có năng lực sáng tạo, kỹ năng nghề nghiệp và khả năng hành động hiệu quả. Phương châm “thực học, thực nghiệp, thực làm” phản ánh tinh thần đổi mới căn bản, toàn diện GD-ĐT, đồng thời là lời nhắc nhở đối với mỗi chúng ta về trách nhiệm học tập, lao động và khát vọng cống hiến thật sự.

 Giờ học của sinh viên Trường Đại học CMC. Ảnh: HƯNG HÀ

Ba chữ “thực” tuy ngắn gọn nhưng chứa đựng triết lý giáo dục sâu sắc. Đó là học thật, việc thật và làm thật; là sự thống nhất giữa nhận thức với hành động, giữa lý luận với thực tiễn, giữa đào tạo với nhu cầu phát triển của đất nước.

Thực học là nền tảng của quá trình đào tạo. Học không phải để đối phó với các kỳ thi, càng không phải để tích lũy bằng cấp như một thứ “trang sức” để làm đẹp hồ sơ lý lịch cá nhân. Thực học là học để hiểu bản chất của vấn đề, học để hình thành tư duy, học để giải quyết những yêu cầu của cuộc sống và công việc. Giá trị của tri thức không nằm ở số lượng kiến thức được ghi nhớ mà ở khả năng vận dụng sáng tạo, hiệu quả trong thực tiễn.

Tuy nhiên, thực tế hiện còn nhiều nơi, nhiều người vẫn sính bệnh thành tích, chạy theo điểm số, coi trọng bằng cấp hơn năng lực. Một bộ phận học sinh, sinh viên dành phần lớn thời gian để ghi nhớ kiến thức phục vụ thi cử nhưng lại không chú trọng rèn luyện tư duy độc lập, kỹ năng giao tiếp, làm việc nhóm hay giải quyết vấn đề. Điều đó tạo ra khoảng cách giữa kết quả học tập và năng lực làm việc sau khi tốt nghiệp.

Từ hiện trạng đó, thực học đòi hỏi sự đổi mới tư duy, phương pháp đối với cả người dạy và người học. Nhà trường phải chuyển từ truyền thụ kiến thức sang phát triển phẩm chất và năng lực của người học. Người thầy không chỉ truyền đạt mà còn khơi gợi cảm hứng khám phá, hướng dẫn phương pháp học tập và tư duy phản biện của người học. Người học phải chủ động, tự giác, biết đặt câu hỏi, biết tìm kiếm tri thức mới và học tập suốt đời. Trong thời đại trí tuệ nhân tạo, tri thức phát triển mạnh mẽ và có thể nhanh chóng thay đổi, nhưng năng lực tự học và thích ứng trở thành lợi thế cạnh tranh quan trọng nhất của mỗi người.

Nếu thực học tạo nên nền tảng tri thức thì thực nghiệp chính là mục tiêu của giáo dục. Học phải hướng tới việc hình thành nghề nghiệp, kiến tạo năng lực lao động và khả năng tạo ra giá trị cho xã hội. Một nền giáo dục hiện đại không thể tách rời nhu cầu phát triển kinh tế-xã hội và yêu cầu của thị trường lao động. Thế nhưng, nhiều năm qua vẫn tồn tại một nghịch lý: Doanh nghiệp thiếu lao động có kỹ năng trong khi không ít cử nhân lại gặp khó khăn khi tìm kiếm việc làm. Một trong những căn nguyên là chương trình đào tạo ở một số nơi chưa theo kịp sự thay đổi của thực tiễn, còn nặng về lý thuyết, nhẹ về thực hành. Nhiều người tốt nghiệp phải đào tạo lại mới có thể đáp ứng yêu cầu công việc.

Thực tế đó đặt ra yêu cầu phải có sự gắn kết chặt chẽ giữa nhà trường với doanh nghiệp, giữa đào tạo với sản xuất, giữa giảng đường với thực tiễn. Sinh viên cần được thực hành nhiều hơn, tham gia các dự án thực tế, thực tập tại doanh nghiệp, tiếp cận công nghệ mới và rèn luyện kỹ năng nghề nghiệp ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường. Giá trị của một cơ sở giáo dục không chỉ được đo bằng số lượng sinh viên tốt nghiệp mà còn bằng tỷ lệ người học có việc làm phù hợp, có khả năng sáng tạo và thích ứng với thị trường lao động hiện đại.

Kết hợp chặt chẽ giữa hai yếu tố thực học và thực nghiệp chính là thực làm. Học để làm, biết để hành động và biến tri thức thành những kết quả cụ thể. Một ý tưởng dù hay đến đâu cũng chỉ dừng lại ở lý thuyết nếu không được triển khai bằng những việc làm thiết thực. Trong thực tế cuộc sống, thành công không được quyết định bởi những lời nói hay những bản kế hoạch trên giấy mà được chứng minh bằng hiệu quả công việc. Người có năng lực là người tạo ra sản phẩm, giải quyết được vấn đề và mang lại giá trị tốt đẹp cho cộng đồng, xã hội. Vì vậy, thực làm là thước đo chính xác của thực học và thực nghiệp.

Ba yêu cầu “thực học, thực nghiệp, thực làm” gắn bó hữu cơ và tạo thành một chu trình thống nhất. Thực học tạo ra tri thức, thực nghiệp hình thành kỹ năng, thực làm chuyển hóa tri thức và kỹ năng thành giá trị thực tiễn. Nếu chỉ học mà không hành động thì tri thức sẽ trở nên vô nghĩa; nếu chỉ làm mà thiếu nền tảng học vấn thì khó có thể phát triển lâu dài; còn nếu có nghề nhưng không ngừng rèn luyện và sáng tạo thì năng lực sẽ nhanh chóng tụt hậu trước sự thay đổi nhanh chóng của xã hội và thời đại.  

Đối với người học thời nay, phương châm này là lời nhắc nhở phải từ bỏ tư tưởng, thái độ học đối phó, học vì bằng cấp để chuyển sang học vì năng lực và khát vọng cống hiến. Mỗi giờ học cần được coi là cơ hội tích lũy tri thức; mỗi giờ thực hành là cơ hội rèn luyện kỹ năng; mỗi công việc được giao là dịp để khẳng định bản thân và hoàn thiện kỹ năng lao động của mình.

Đối với các cơ sở giáo dục, “thực học, thực nghiệp, thực làm” là yêu cầu cấp thiết trong đổi mới chương trình đào tạo, phương pháp giảng dạy và đánh giá theo hướng lấy người học làm trung tâm, tăng cường thực hành, trải nghiệm và nghiên cứu khoa học. Nhà trường phải trở thành nơi kết nối tri thức với thực tiễn, nơi hình thành những công dân có năng lực sáng tạo và tinh thần phụng sự cộng đồng, xã hội.

Đối với doanh nghiệp và xã hội, phương châm này cũng đặt ra trách nhiệm đồng hành với giáo dục. Doanh nghiệp cần tham gia sâu hơn vào quá trình đào tạo, xây dựng chuẩn đầu ra, tạo điều kiện thực tập và tuyển dụng sinh viên có trình độ, kỹ năng tốt. Xã hội cần thay đổi quan niệm về giá trị của lao động, tôn vinh năng lực thực chất thay vì chỉ nhìn vào bằng cấp, trình độ, chức danh thuần túy.

Trong giai đoạn phát triển mới của đất nước, khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được xác định là động lực tăng trưởng quan trọng, nguồn nhân lực chất lượng cao là yếu tố quyết định sức mạnh mềm và năng lực cạnh tranh quốc gia. Muốn thích ứng bối cảnh đó, ngành giáo dục và các nhà trường phải kiên trì theo đuổi triết lý đào tạo con người có tri thức, kỹ năng và năng lực làm việc, hành động hiệu quả. Đây cũng là một trong những quan điểm cốt lõi của Đảng ta đã xác định tại Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22-8-2025: GD-ĐT phải bảo đảm “học đi đôi với hành”, “lý thuyết gắn liền với thực tiễn”, “nhà trường gắn liền với xã hội”.

Thích