Tin tức & Xã hội Văn hóa

A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Dự kiến tăng mức trợ giúp xã hội lên 540.000 đồng từ ngày 1-7

Trên cơ sở ý kiến chỉ đạo của Bộ Chính trị, Chính phủ, Bộ Y tế đề xuất Chính phủ xem xét, quyết định điều chỉnh mức chuẩn trợ giúp xã hội, mức trợ cấp hưu trí xã hội từ 500.000 đồng lên 540.000 đồng (tăng 8%), dự kiến thực hiện từ ngày 1-7-2026.

Thông tin trên được nêu tại dự thảo hồ sơ Nghị định quy định chính sách trợ giúp xã hội và trợ cấp hưu trí xã hội đang được Bộ Tư pháp thẩm định.

Dự kiến mức chuẩn trợ cấp xã hội và đối tượng, mức trợ cấp được nêu tại Điều 4, 5 và 6 dự thảo Nghị định quy định chính sách trợ giúp xã hội và trợ cấp hưu trí xã hội. Cụ thể như sau:

Điều 4. Mức chuẩn trợ giúp xã hội

1. Mức chuẩn trợ giúp xã hội làm căn cứ để xác định mức trợ cấp xã hội, mức trợ cấp hưu trí xã hội, mức hỗ trợ kinh phí nhận chăm sóc, nuôi dưỡng; mức chăm sóc, nuôi dưỡng tại các cơ sở trợ giúp xã hội, nhà xã hội, cơ sở chăm sóc, nuôi dưỡng khác (sau đây gọi chung là cơ sở trợ giúp xã hội) và các mức trợ giúp xã hội khác.

2. Mức chuẩn trợ giúp xã hội là 540.000 đồng.

Tùy theo khả năng cân đối của ngân sách, tốc độ tăng giá tiêu dùng và tình hình đời sống của đối tượng thụ hưởng chính sách, cơ quan có thẩm quyền xem xét, điều chỉnh tăng mức chuẩn trợ giúp xã hội cho phù hợp; bảo đảm tương quan chính sách đối với các đối tượng khác.

Điều 5. Đối tượng

1. Trẻ em dưới 16 tuổi thuộc một trong các trường hợp quy định sau:

a) Bị bỏ rơi chưa có người nhận làm con nuôi;

b) Mồ côi cả cha và mẹ; mồ côi cha hoặc mẹ và người còn lại không xác định được;

c) Mồ côi cha hoặc mẹ và người còn lại bị tuyên bố mất tích theo quy định của pháp luật;

d) Mồ côi cha hoặc mẹ và người còn lại đang hưởng chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở trợ giúp xã hội;

đ) Mồ côi cha hoặc mẹ và người còn lại đang trong thời gian chấp hành án phạt tù tại trại giam hoặc đang chấp hành quyết định xử lý vi phạm hành chính tại trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc;

e) Cả cha và mẹ bị tuyên bố mất tích theo quy định của pháp luật;

g) Cả cha và mẹ đang hưởng chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở trợ giúp xã hội;

h) Cả cha và mẹ đang trong thời gian chấp hành án phạt tù tại trại giam hoặc đang chấp hành quyết định xử lý vi phạm hành chính tại trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc;

i) Cha hoặc mẹ bị tuyên bố mất tích theo quy định của pháp luật và người còn lại đang hưởng chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở trợ giúp xã hội;

k) Cha hoặc mẹ bị tuyên bố mất tích theo quy định của pháp luật và người còn lại đang trong thời gian chấp hành án phạt tù tại trại giam hoặc đang chấp hành quyết định xử lý vi phạm hành chính tại trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc;

l) Cha hoặc mẹ đang hưởng chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở trợ giúp xã hội và người còn lại đang trong thời gian chấp hành án phạt tù tại trại giam hoặc đang chấp hành quyết định xử lý vi phạm hành chính tại trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc.

2. Người thuộc diện quy định tại khoản 1 Điều này đang hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng mà đủ 16 tuổi đến 22 tuổi nhưng đang tiếp tục học giáo dục phổ thông, giáo dục thường xuyên, giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học văn bằng thứ nhất thì tiếp tục được hưởng chính sách trợ giúp xã hội cho đến khi kết thúc học.

3. Trẻ em nhiễm HIV/AIDS thuộc hộ nghèo.

4. Người thuộc diện hộ nghèo, hộ cận nghèo chưa có chồng hoặc chưa có vợ; đã có chồng hoặc vợ nhưng đã chết hoặc mất tích theo quy định của pháp luật và đang nuôi con dưới 16 tuổi (sau đây gọi chung là người đơn thân nghèo nuôi con).

Trường hợp người đơn thân nghèo nuôi con đang hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng theo quy định tại khoản này, nhưng người con đó đủ 16 tuổi và đang tiếp tục học giáo dục phổ thông, giáo dục thường xuyên, giáo dục nghề nghiệp, đại học văn bằng thứ nhất thì người đơn thân nghèo đang nuôi con tiếp tục được hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng cho đến khi người con kết thúc học.

5. Người cao tuổi thuộc một trong các trường hợp quy định sau đây:

a) Người cao tuổi thuộc diện hộ nghèo, không có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng hoặc có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng nhưng người này đang hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng;

b) Người cao tuổi thuộc diện hộ nghèo, không có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng; không có điều kiện sống ở cộng đồng, đủ điều kiện tiếp nhận vào cơ sở trợ giúp xã hội nhưng có người nhận nuôi dưỡng, chăm sóc tại cộng đồng.

6. Người khuyết tật nặng, người khuyết tật đặc biệt nặng theo quy định pháp luật về người khuyết tật.

7. Trẻ em dưới 3 tuổi thuộc diện hộ nghèo, hộ cận nghèo không thuộc đối tượng quy định tại các khoản 1, khoản 3 và khoản 6 Điều này đang sống tại địa bàn các xã, thôn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đặc biệt khó khăn.

8. Người nhiễm HIV/AIDS thuộc diện hộ nghèo không có tiền lương, tiền công, lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng.

9. Công dân Việt Nam được hưởng trợ cấp hưu trí xã hội khi có đủ các điều kiện sau đây:

a) Từ đủ 75 tuổi trở lên;

b) Không hưởng lương hưu hoặc trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng; hoặc đang hưởng lương hưu hoặc trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng thấp hơn mức hưu trí xã hội hằng tháng quy định tại khoản 3 Điều 6 Nghị định này;

c) Có văn bản đề nghị hưởng trợ cấp hưu trí xã hội.

10. Công dân Việt Nam từ đủ 70 tuổi đến dưới 75 tuổi thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo theo quy định của Chính phủ và đáp ứng đủ điều kiện quy định tại điểm b và điểm c khoản 9 Điều này được hưởng trợ cấp hưu trí xã hội.

Điều 6. Mức trợ cấp xã hội, trợ cấp hưu trí xã hội hằng tháng

1.Đối tượng quy định tại các khoản 1, khoản 2, khoản 3, khoản 4, khoản 5, khoản 6, khoản 7 và khoản 8 Điều 5 Nghị định này được trợ cấp xã hội hằng tháng với mức bằng mức chuẩn trợ giúp xã hội quy định tại khoản 2 Điều 4 Nghị định này nhân với hệ số tương ứng quy định như sau:

a) Đối với đối tượng quy định tại khoản 1 Điều 5 Nghị định này:

- Hệ số 2,5 đối với trường hợp dưới 4 tuổi;

- Hệ số 1,5 đối với trường hợp từ đủ 4 tuổi trở lên.

b) Hệ số 1,5 đối với đối tượng quy định tại khoản 2 Điều 5 Nghị định này.

c) Đối với đối tượng quy định tại khoản 3 Điều 5 Nghị định này:

- Hệ số 2,5 đối với đối tượng dưới 4 tuổi;

- Hệ số 2,0 đối với đối tượng từ đủ 4 tuổi đến dưới 16 tuổi.

d) Đối với đối tượng quy định tại khoản 4 Điều 5 Nghị định này: Hệ số 1,0 đối với mỗi một con đang nuôi.

đ) Đối với đối tượng quy định tại khoản 5 Điều 5 Nghị định này:

- Hệ số 1,5 đối với đối tượng quy định tại điểm a khoản 5 từ đủ 60 tuổi đến dưới 75 tuổi;

- Hệ số 2,0 đối với đối tượng quy định tại điểm a khoản 5 từ đủ 75 tuổi trở lên;

- Hệ số 3,0 đối với đối tượng quy định tại điểm b khoản 5.

e) Đối với đối tượng quy định tại khoản 6 Điều 5 Nghị định này:

- Hệ số 2,0 đối với người khuyết tật đặc biệt nặng;

- Hệ số 2,5 đối với trẻ em khuyết tật đặc biệt nặng hoặc người cao tuổi là người khuyết tật đặc biệt nặng;

- Hệ số 1,5 đối với người khuyết tật nặng;

- Hệ số 2,0 đối với trẻ em khuyết tật nặng hoặc người cao tuổi là người khuyết tật nặng.

g) Hệ số 1,5 đối với đối tượng quy định tại khoản 7 và khoản 8 Điều 5 Nghị định này.

2.Trường hợp đối tượng thuộc diện hưởng các mức theo các hệ số khác nhau quy định tại khoản 1 Điều này hoặc tại các văn bản khác nhau quy định về chế độ trợ giúp xã hội, trợ cấp hưu trí xã hội thì chỉ được hưởng một mức cao nhất. Riêng người đơn thân nghèo đang nuôi con là đối tượng quy định tại các khoản 5, khoản 6 và khoản 8 Điều 5 Nghị định này thì được hưởng cả chế độ đối với đối tượng quy định tại khoản 4 Điều 5 và chế độ đối với đối tượng quy định tại các khoản 5, khoản 6 và khoản 8 Điều 5 Nghị định này.

3.Đối tượng quy định tại khoản 9 và khoản 10 Điều 5 Nghị định này được hưởng trợ cấp hưu trí xã hội hằng tháng với mức bằng mức chuẩn trợ giúp xã hội quy định tại khoản 2 Điều 4 Nghị định này nhân với hệ số 1,0.

Trường hợp đối tượng quy định tại khoản 9 và khoản 10 Điều 5 Nghị định này đồng thời thuộc đối tượng hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng thì được hưởng mức trợ cấp xã hội hằng tháng hoặc trợ cấp hưu trí xã hội hằng tháng cao hơn.

Thích